Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    TLTK -NGỮ DỤNG HỌC VÀ VIỆC DẠY TIẾNG

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Nguyễn Văn Thuận (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:49' 04-02-2011
    Dung lượng: 13.5 KB
    Số lượt tải: 55
    Số lượt thích: 0 người
    NGỮ DỤNG HỌC VÀ VIỆC DẠY TIẾNG - Nguyễn Vân Phổ
    
    
     .
    1. Theo Levinson (1983), “ngữ dụng học nghiên cứu những quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh đã được ngữ pháp hóa hoặc được mã hóa trong cấu trúc của một ngôn ngữ”. Đề cập ngữ dụng học người ta thường nói đến lý thuyết giao tiếp, lý thuyết hội thoại, lý thuyết lập luận và hàng loạt khái niệm quan trọng khác. Nghĩa là, theo quan điểm ngữ dụng học, khi ngôn ngữ đang hành chức thì cần phải xem xét nó trong quan hệ với ngữ cảnh, nói rộng hơn, phải cân nhắc cả quan hệ giữa người nói và người nghe và cả những gì ở đằng sau chuỗi ngôn từ đã được thốt ra. Tuy nhiên hình như trong lĩnh vực dạy tiếng (tiếng Việt) những khái niệm và thành tựu của ngữ dụng học chưa được quan tâm đúng mức.
    Từ trước đến nay người ta thường nói, quá trình học tiếng là quá trình thụ đắc một ngôn ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và cả văn hóa, cái yếu tố sau này ngày càng được nói đến nhiều. Cách nhìn đó đúng nhưng hình như chưa đủ, nhất là trong bối cảnh của một thế giới mở như hiện nay, việc học một ngôn ngữ nào đó thường được hướng đến khả năng sử dụng nó như là ngôn ngữ thứ hai. Quá trình dạy ngôn ngữ trên các bình diện như trên sẽ cung cấp cho người học những “hiểu biết” về ngôn ngữ, những mô hình, những quy tắc chuẩn mực nhưng thiếu sức sống. Chúng tôi thiết nghĩ, triển khai việc dạy và học một thứ tiếng nào đó cần phải được đặt trong môi trường giao tiếp của chính thứ tiếng đó; khi nghe một câu, người học phải nhận biết được nội dung của thông tin chứa đựng trong câu và tất cả những ý đồ, mục đích mà người nói muốn nhắm đến; ngược lại, khi tạo một phát ngôn, người học phải thực sự đủ năng lực biểu hiện tất cả những gì mình muốn tác động đến người nghe ngoài cái nội dung thông tin trên câu chữ. Chính vì vậy, chúng tôi nghĩ cần vận dụng những quan điểm của ngữ dụng học vào việc biên soạn tài liệu dạy tiếng cũng như việc giảng dạy trên lớp để người học có được khả năng sử dụng tiếng một cách tự nhiên như là người bản ngữ.
    Sau đây chúng tôi xin được trình bày một vài suy nghĩ còn rời rạc của mình về vấn đề giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai, dựa trên sự phân tích ngữ dụng.
    2. Theo quan sát của chúng tôi, khi dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, các giáo viên đã có một sự “chuyển dịch” rất lớn từ việc cung cấp những câu “mẫu” đến những câu “bình thường” trong nói năng. Chẳng hạn:
    (1)   Anh đi đâu?  (1’) Anh đi đâu vậy? / Anh định đi đâu? / Anh đi đâu về?
    (2)   Anh làm gì?  (2’) Anh làm gì thế? / Anh đang làm gì thế? / Anh mới làm gì thế?
    (3)   Anh cần gì?  (3’) Có chuyện gì vậy? / Anh muốn cái gì?
    (4)   Anh nói gì?  (4’) Anh muốn nói gì? / Anh vừa nói gì? / Anh nói gì vậy?
    Các câu (1) (2) (3) (4) là các mẫu, khó có thể hình dung nó có thể được sử dụng trong các bối cảnh thông thường. Bằng vào kết quả nghiên cứu của ngữ pháp và ngữ nghĩa, người dạy đã bắt đầu có ý thức trong việc phân biệt các câu có hay không có các yếu tố tình thái và phân biệt ý nghĩa giữa các yếu tố tình thái với nhau. “Anh đi đâu?” không thể thay cho “Anh đi đâu thế?”, vì câu sau là một câu được định vị trong không gian-thời gian với quan hệ người nói – người nghe rõ ràng: người nghe phải nhìn thấy đối tượng đang di chuyển, đang chuẩn bị di chuyển, hoặc có dáng vẻ bề ngoài khiến cho ai cũng nghĩ rằng họ sắp di chuyển. Do vậy câu trả lời có thể là
    (5)   Tôi đang đi chợ.
    (6)   Tôi đi ra kia một tí.
    (7)   Tôi phải đi làm bây giờ đây.
    (8)   Tôi có đi đâu đâu (tôi chỉ thay áo cho sạch thôi) v.v..
    Trong khi đó, với câu (1) “Anh đi đâu?”, người nghe sẽ phải chất vấn:
    –        Hồi sáng này à? Hồi sáng này tôi đi bưu điện
    –        Anh muốn hỏi tối hôm qua à? Tối hôm qua tôi có đi đâu đâu.
    –        Đi đâu là đi đâu? v.v..
    Rõ ràng nếu một phát ngôn không được định vị trong tình huống, được biểu hiện qua ngữ nghĩa của các trợ từ hoặc vị từ tình
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓