Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đề cương Tiếng Việt thực hành

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Nguyễn Văn Thuận (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:55' 04-02-2011
    Dung lượng: 93.4 KB
    Số lượt tải: 68
    Số lượt thích: 0 người


    CHƯƠNG 1 :   RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XÂY DỰNG VĂN BẢN
    KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN
    ĐOẠN VĂN - ĐƠN VỊ ĐIỂN HÌNH VÀ CƠ SỞ CỦA VĂN BẢN
    QUI TRÌNH TẠO LẬP VĂN BẢN
    LỖI LIÊN KẾT VĂN BẢN VÀ CÁCH SỬA CHỮA

    I.  KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN (NGÔN BẢN)
    1- Khái niệm về văn bản.
    Văn bản (tiếng Anh: text; tiếng Pháp: texte) là sản phẩm hoàn chỉnh của một hành vi tạo lời (hay hành vi phát ngôn), mang một nội dung giao tiếp cụ thể, gắn liền với một đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp xác định, thể hiện dưới dạng âm thanh hay chữ viết.
    Bên cạnh khái niệm văn bản, trong một số tài liệu giáo khoa, các chuyên luận về Ngữ pháp văn bản, còn xuất hiện khái niệm ngôn bản (dịch từ tiếng Pháp: discours, hay tiếng Anh: discourse). Khái niệm ngôn bản được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: Thứ nhất, nó được hiểu đồng nhất với khái niệm văn bản. Thứ hai, nó được hiểu trong mối quan hệ đối lập với văn bản. Theo cách hiểu thứ hai, ngôn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn, thể hiện dưới dạng âm thanh. Còn văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn, thể hiện dưới dạng chữ viết. Ở đây, khái niệm văn bản được quan niệm đồng nhất với khái niệm ngôn bản.
    Theo quan niệm vừa nêu thì văn bản có thể là một câu nói như câu khẩu hiệu (ví dụ: Không có gì quý hơn độc lập tự do), câu tục ngữ (ví dụ: gần mực thì đen, gần đèn thì sáng), một tin vắn gồm vài ba câu, một bài thơ, một truyện ngắn, một bài nghiên cứu, một quyển sách v.v...
    2- Khái niệm về nội dung và cấu trúc của văn bản.
    2.1- Nội dung của văn bản.
    Văn bản dù ngắn hay dài đều đề cập đến một hay một vài đối tượng nào đó trong hiện thực khách quan hay trong hiện thực tâm lí, tình cảm của con người. Ðối tượng này chính là đề tài của văn bản (tiếng Anh: subject-matter). Gắn liền với đề tài là sự triển khai của người viết/nói về đề tài, tức sự miêu tả, trần thuật hay bàn luận về đề tài. Nội dung miêu tả, trần thuật hay bàn luận cơ bản, bao trùm lên toàn văn bản là chủ đề của đề tài.
    Ví dụ:
    Thằng Bờm
    Thằng Bờm có cái quạt mo,
    Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
    Bờm rằng bờm chẳng lấy trâu,
    Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
    Bờm rằng bờm chẳng lấy mè,
    Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
    Bờm rằng bờm chẳng lấy lim,
    Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
    Bờm rằng bờm chẳng lấy mồi,
    Phú ông xin đổi nấm xôi, Bờm cười.
     
    Bài đồng dao trên đề cập đến hai đối tượng: thằng Bờm và phú ông. Nội dung trần thuật cơ bản về hai đối tượng đó là cuộc trao đổi. Như vậy thằng Bờm và phú ông là đề tài của văn bản; còn cuộc trao đổi là chủ đề của nó. Tổng hợp hai nhân tố này, ta xác định được nội dung cơ bản của văn bản: cuộc trao đổi giữa phú ông và thằng Bờm. Tương tự như vậy, khi xem xét truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, ta thấy truyện đề cập đến Tràng, người đàn bà, bà Tứ, người trong xóm ngụ cư. Ðây chính là đề tài của văn bản. Còn nội dung triển khai bao trùm lấy truyện là: việc tình cờ nhặt được vợ (của Tràng). Ðây là chủ đề của văn bản truyện. Gộp hai yếu tố này lại, ta xác định được nội dung cơ bản của truyện: việc tình cờ nhặt được vợ của Tràng.
    Cần lưu ý rằng, đề tài của văn bản thường mang tính hiển ngôn, còn chủ đề của văn bản có thể mang tính hàm ngôn hay hiển ngôn. Tính hiển ngôn hay hàm ngôn của chủ đề văn bản có thể do phong cách ngôn ngữ văn bản hay do phong cách tác giả chi phối. Nhìn chung, trong các loại hình văn bản phi hư cấu (văn bản thuộc phong cách khoa học, chính luận, hành chánh), chủ đề thường được hiển ngôn. Trong các loại hình văn bản hư cấu (văn bản thuộc phong cách nghệ thuật), chủ đề thường mang tính hàm ngôn, nhiều tầng, nhiều lớp.
    2.2- Cấu trúc của văn bản.
    Như đã nói, tuỳ theo quy mô, văn bản có thể chỉ gồm một câu, vài câu hay bao gồm nhiều đoạn, nhiều chương, nhiều phần... Câu, đoạn, chương, phần khi tham gia vào tổ chức của văn bản đều có một chức năng nào đó và chúng
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓