Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Đề cương Cơ sở ngôn ngữ học

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: ĐHCT
    Người gửi: Nguyễn Văn Thuận (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:15' 04-02-2011
    Dung lượng: 112.7 KB
    Số lượt tải: 36
    Số lượt thích: 0 người
    CHƯƠNG I:
    DẪN LUẬN
    ***
    I. Ðiểm qua lịch sử ngôn ngữ học
    Phải trải qua 4 giai đọan, ngành Ngôn ngữ học - khoa học hình thành xung quanh các sự kiện ngôn ngữ - mới nhận ra đối tượng thật sự và duy nhất của nó.
    1. Ðầu tiên, người ta nghiên cứu ngôn ngữ dưới tên gọi của một ngành học mà người ta gọi là Ngữ pháp .
    Ở phương Ðông, ngành học này được khai sinh nhờ công của người Ấn Ðộ và Trung Quốc; ở phương Tây, ngôn ngữ học được khởi đầu nhờ công của người Hy-Lạp, Rô-ma... Ðiểm qua lịch sử nghiên cứu ngành học ở giai đoạn này, có thể nêu một số đóng góp đáng kể của các dòng ngôn ngữ học truyền thống như sau ( khái niệm truyền thống được các nhà ngữ học dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự hình thành ngành học ngôn ngữ với tên gọi có phần hơi phiến diện ):
    1.1. Dòng Ấn Ðộ.
    TOP
    
    Vùng này còn được gọi là tiểu lục địa Ấn Ðộ bao gồm Ấn Ðộ và các nước láng giềng ngày nay. Khu vực này chịu ảnh hưởng mạnh của tiếng Xanxkrit. Tiếng Xanxkrit có nghĩa đen là tiếng tinh luyện, đối lập với tiếng Prakrit có nghĩa là tiếng bình dân. Nó là một ngôn ngữ có hệ thống biến hình rất phong phú. Di tích chữ viết của thứ tiếng này xuất hiện rất sớm, khoảng TK II-I trước CN. Nhưng có thể nói, khoảng 1500 năm trước CN, người Aryen có công trong việc hình thành bộ kinh Vêđa hiểu biết, tri thức , mà các kinh Vêđa vốn ban đầu là những tác phẩm truyền miệng sau được viết lại bằng thứ tiếng này: Atharvêđa, Rigvêđa, Samavêđa, Yajurvêđa...
    Trong các kinh Vêđa, người cổ xưa đã sớm ý thức đến ngôn ngữ. Họ xem ngôn ngữ như một vị thần, có tên là Vak, và đã cùng với các vị thần khác lập nên thế giới này.
    Trên thực tế, hệ thống triết học Ấn Ðộ dù chính thống hay không chính thống cũng đều đề cập đến vấn đề ngôn ngữ, đó là vấn đề nắm bắt và biểu thị hiện thực. Song, ngôn ngữ chỉ thực sự trở thành đối tượng của ngành học dưới cái nhìn của các nhà ngữ pháp học.
    Ngay từ thời kỳ này, các khái niệm như: pađa (nghĩa đen), aksara (âm tiết), svara (trọng âm)... đã xuất hiện; sự giải thích từ theo qui tắc liên tưởng là mầm mống của công tác từ điển học cũng đã bắt đầu được hình thành.
    Tác phẩm khác có liên quan đến ngành học là loại sách Nirukta (sách của những tên gọi) của Yaska. Ðóng góp chủ yếu của công trình này là lĩnh vực từ nguyên học. Có thể nói công trình của Yaska là công trình độc nhất ở thời kỳ có bàn đến từ nguyên. Còn trên lĩnh ngữ pháp, tuy ông cũng có công lao nhất định, nhưng thành tựu của ngữ pháp học cổ đại Ấn Ðộ phải kể đến Panini.
    Công trình của Panini nổi tiếng đến mức đã hình thành một ngành học trên thế giới là Panini học. Tác phẩm của ông được viết vào khoảng thế kỷ thứ V trước CN. Tác phẩm gồm tám tập, mỗi tập có nhiều mục, mỗi mục có nhiều qui tắc. Tổng cộng có 3996 qui tắc. Có thể nói, hơn tất cả các nhà ngữ pháp thế giới từ thời thượng cổ đến giữa thế kỷ XX, Panini là người miêu tả đầy đủ nhất, có hệ thống nhất các chức năng cú pháp của danh từ, là người duy nhất so sánh một cách nhất quán các hình thức biến cách với các loại chức năng. Ông là người biết dựa chắc vào việc phân tích cấu trúc của toàn bộ ngôn ngữ một cách tỉ mỉ, kể cả việc phân tích từ ra thành căn tố, thân từ và biến tố. Việc sắp xếp hệ hình biến cách của danh từ cũng đã sớm tuân theo một trật tự nghiêm ngặt: chủ cách, tân cách, công cụ cách, tặng cách, trạng cách, sinh cách, vị trí cách...
    1.2. Dòng Trung Quốc.
    Trung Quốc vốn là một đất nước gồm nhiều quốc gia, nhiều dân tộc mà dân tộc đại diện cho chủ thể quốc gia này là người Hán, với tiếng Hán và chữ Hán. Thực tế, ở Trung Quốc, ngoài tiếng Hán ra, còn có trên 70 ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, thuộc các họ Hán-Tạng; Nam Á; Ấn Âu...
    Chữ Hán là một trong những loại văn tự của con người có tuổi đời rất cổ, trên 3500 năm. Dấu tích của những chữ này được tìm thấy trên những mai rùa, xương bò, quẻ khắc. Những chữ này là những chữ tượng hình. Nhờ có chữ viết sớm, Người Hán cũng đã sớm có những bản viết trên đồng, trên thẻ tre và cuối cùng là trên giấy ( sử TQ cho rằng, Thái Luân đã làm ra giấy từ thế
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓