Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Chính tả >

    PHÉP BỎ DẤU HỎI NGÃ 3

    CÁCH NHẬN RA TIẾNG ĐÔI LẤP LÁY

    Khi hai tiếng của một từ mà hai phụ âm đầu của hai tiếng ấy giống nhau, hoặc cả âm đầu lẫn vần đều giống nhau (cùng giọng Bổng cả, hoặc cùng giọng Trầm cả), thì đó là Tiếng Đôi Lấp Láy.

    DỰA VÀO NGHĨA: Một Tiếng Đôi mà cả hai tiếng đều có nghĩa, thì Tiếng Đôi đó KHÔNG PHẢI là Tiếng Đôi Lấp Láy.

    ĐẢO NGƯỢC TRẬT TỰ: Khi đảo ngược trật tự của một tiếng-đôi mà tiếng-đôi đó vẫn còn y nghĩa như khi chưa bị đảo trật tự, thì tiếng đó là tiếng ghép chớ KHÔNG PHẢI là Tiếng Đôi Lấp Láy.

    Ví dụ: giữ gìn, lả lơi, lơ lửng, hờ hững, là tiếng ghép chớ không phải là Tiếng Đôi Lấp Láy, vì khi đảo ngược, nó vẫn giữ nghĩa như trước. (gìn giữ, lơi lả, lửng lơ, hững hờ).

    TIẾNG ĐÔI BỎ BỚT MỘT DẤU GIỌNG: Có nhiều Tiếng-Đôi vì muốn cho êm tai nên

    1) phải bỏ bớt một dấu giọng. Mấy tiếng mất dấu giọng đó là tiếng chánh lập lại, chớ không phải tiếng đệm, nên những tiếng đôi đó không bỏ dấu theo luật Trầm Bổng. Thí dụ: khe khẽ, là khẽ khẽ; dê dễdễ dễ; đăng đẵngđằng đẵng.

    2) Có nhiều Tiếng-Đôi bị đổi giọng, như hẳn hoi trở thành hẳn hòi; kỹ càng trở thành kỹ cang.

    Ngoài ra, NHỮNG TIẾNG NÓI TẮT do ghép với tiếng ẤY, đều viết dấu Hỏi. (Nói Tắt là nói thúc hai chữ thành một, theo lối giản ước). Ví dụ như:

    anh + ấy = ảnh; bà + ấy = bả; cậu + ấy = cẩu; chị + ấy = chỉ; hôm + ấy = hổm; mợ + ấy = mở; năm + ấy = nẳm; thằng cha + ấy = thằng chả; con mẹ ấy = con mẻ

    NHỮNG NGOẠI LỆ CỦA TIẾNG-ĐÔI (Không còn theo luật Trầm Bổng)

    bền bỉ, chàng hảng, chèo bẻo, dòm dỏ, ẻo ẹo, giãy nảy, hoài hủy, hẳn hòi, ĩnh ương, khe khẽ, lảng xẹt, lý lẽ, luồn lỏi, lẳng lặng, mình mẩy, se sẽ, mủ mĩ, niềm nở, ngoan ngoãn, nhểu nhão, phỉnh phờ, rẻ rề, rỗng tuếch, sành sỏi, sừng sỏ, sửng sờ, thỏng thừa, thung lũng, trễ nải, trọi lỏi, trơ trẽn, ve vãn, vỏn vẹn, xảnh xẹ.

    MUỐN BIẾT PHẢI BỎ DẤU GÌ?

    1) Cách lẹ nhất là thử tìm một Tiếng Đôi khác, có cái chữ mình đang phân vân về dấu hỏi hay ngã.

    Ví dụ chữ dễ dãi: Chỉ cần biết được một trong hai chữ dễ hoặc dãi mang dấu gì thì biết được luôn cả dấu của chữ kia. Thử chọn chữ dễ trước. Với chữ dễ ta có Tiếng đôi Lấp-láy dễ dàng. Với dễ dàng ta biết chữ dễ phải viết dấu ngã vì chữ dàng có dấu huyền. Khi đã biết chữ dễ viết dấu ngã thì ta xác định được là chữ dãi phải viết dấu ngã do luật "HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ"

    Đối với các chữ mang dấu Hỏi cũng làm như vậy.

    2) Khi không tìm ra một Tiếng-đôi Lấp-láy trong đó có chữ mà ta cần biết là mang dấu gì thì ta nên thử đưa nó vào loại chữ-láy bốn tiếng.

    Ví dụ chữ đủng đỉnh: Ta có đủng đa đủng đỉnh, về lủng lẳng ta có lủng la lủng lẳng. Khi ta thấy đủng đa, lủng la, thì ta có thể khẳng định đủng và lủng phải viết dấu hỏi theo luật "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI". Khi đã biết đủnglủng phải viết dấu hỏi rồi thì ta biết được đỉnhlẳng củng phải viết dấu hỏi theo luật Trầm Bổng "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI".

    3) Đối với Tiếng-Nôm-đơn, và Chữ-ghép.

    Khi gặp tiếng Nôm-đơn hoặc một tiếng trong các Chữ-ghép mà ta phân vân về dấu hỏi ngã, thì ta tìm một Tiếng-đôi Lấp-láy có tiếng đó, rồi áp dụng luật đễ tìm dấu hỏi hay ngã.

    Ví dụ 1: ta gặp các chữ: nghỉ, nghĩ, dở, dễ, khoẻ... Ta tìm xem các chữ nầy viết hỏi hay ngã. Ta xem tiếng Lấp-láy phải viết dấu gì?

    nghỉ: nghỉ ngơi --> dấu hỏi
    nghĩ: nghĩ ngợi --> dấu ngã
    dở: dở dang --> dấu hỏi
    dễ: dễ dàng --> dấu ngã
    khoẻ: khoẻ khoắn --> dấu hỏi

    Ví dụ 2: như gặp chữ sửa chữa, không biết chữ nào viết hỏi, chữ nào viết ngã, thì ta tách chữ đó ra để mà tìm.

    Ta sẽ có Tiếng-đôi sửa sang. Khi đã có sửa sang thì ta yên tâm viết sửa với dấu hỏi vì "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI".

    Đến chữ chữa thì ta biết chữa là Tiếng-nôm có Gốc-Hán-việt là chữ Trị, vậy phải viết dấu ngã, vì "HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ".

    Ví dụ 3: gặp chữ ủ rũ, không biết chữ nào viết hỏi, chữ nào viết ngã, thì ta cũng tách chữ đó ra, rồi tìm cách đưa thành một Tiếng-đôi Lấp-láy.

    Ta sẽ có ủ ê. Khi đã có ủ ê thì ta yên tâm viết với dấu hỏi, vì ê là chữ không dấu, theo luật "KHÔNG, SẮC, HỎI = HỎI"

    Đến chữ thì ta có Tiếng-đôi Lấp-láy rũ rượi nên ta biết là phải viết dấu ngã vì rượi là chữ có dấu nặng, theo luật "HUYỀN, NẶNG, NGÃ = NGÃ"

    CHÚ Ý: Khi tạo Tiếng-đôi Lấp-láy để dựa vào đó mà xác định dấu hỏi ngã, ta cần chọn Tiếng-đôi Lấp-láy sao cho nghĩa của Tiếng-đôi đó, khi tách ra một mình, phải cùng nghĩa với chữ mình đang muốn tìm dấu.

    Thí dụ: dễ (dễ làm) và dễ trong Tiếng-đôi Lấp-láy dễ dàng, dễ ợt, cùng có nghĩa giống nhau.

    Nếu tìm được một Tiếng-đôi Lấp-láy hay không Lấp-láy nhưng chữ trong tiếng đó lại khác nghĩa với nghĩa của chữ mình đang tìm dấu thì không thể dùng được. Chẳng hạn như trong ủ rũ mà ta lại dùng chữ rủ của rủ rê, rủ ren thì không cùng nghĩa cho nên ta sẽ viết sai dấu ngay.

    III. VẬN

    Mỗi Nguyên-âm có thể kể là một vần đơn. Ngoài ra ta có thể tạo thành vần bằng cách:

    1. Ghép hai hoặc ba Nguyên-âm lại.

    ai, ay, ao, au, âu, eo, ui, ưu, uôi, uây.

    2. Ghép một hay hai Nguyên-âm với một Phụ-âm.

    ac, am, an, ang, anh, im, in, ich, inh, iêng, uông, ương.

    3. Ghép ba Nguyên-âm với một Phụ-âm.

    uyên, uyêt.

    Nhiều vần tự nó đã có thể làm nên một tiếng: ư, ai, ân, anh, em, in.

    * Trong những Tiếng-đôi Trùng vần, nghĩa là vần của tiếng sau đồng một vần với tiếng trước, thì chánh tả tiếng sau phải tùy tiếng trước:

    ăn năn, tằn mằn, lăng xăng, xăng văng, bủn rủn, bung xung, lủng củng, lui cui, lụi đụi, lủi thủi...

    * Về những Tiếng-đôi Không trùng vần, có mấy vần đã thành lệ như sau:

    1) Vần âp

    Những Tiếng-đôi do hai tiếng không nghĩa hợp thành, mà vần âp đứng trước thì tiếng âp viết với â.

    bấp bênh, bập bệu, chập chững, gập ghềnh, xấp xỉ, hấp hối, lấp lánh, lập lòe, phập phều.

    Trừ mấy tiếng:

    đắp đổi, đắp điếm, lắp bắp, lặp bặp, rắp ranh.

    2) Vần ang, àng

    Tất cả Tiếng-đôi không trùng vần mà tiếng sau không nghĩa, xuống vần ang, àng đều viết CÓ G:

    dở dang, hở hang, mở mang, nể nang, bẽ bàng, bộn bàng, dịu dàng, gọn gàng, lẹ làng, mịn màng, ngó ngàng, nhẹ nhàng, sẵn sàng...

    Trừ:

    chứa chan, hỏi han, nồng nàn...

    3) Vần ắn

    Tất cả Tiếng-đôi Không trùng vần, khi xuống vần ắn đều viết KHÔNG G. Như:

    đứng đắn, giỏi giắn, may mắn, ngay ngắn, xinh xắn.

    Trừ:

    lo lắng, sốt sắng, tằng (đằng, dặng) hắng.

    4) Vần ằng

    Tất cả Tiếng-đôi Không trùng vần, khi xuống vần ằng đều viết CÓ G . Như:

    dùng dằng, đãi đằng, ngùng ngoằng, vùng vằng.

    Trừ:

    cộc cằn, dữ dằn, nhọc nhằn.

    5) Vần ẩn, ẫn

    Những Tiếng-đôi mà tiếng sau không nghĩa, khi xuống vần ẩn, ẫn, đều viết KHÔNG G:

    dớ dẩn, ngớ ngẩn, thơ thẩn, đờ đẫn, thờ thẫn, vờ vẫn

    Trừ khi vận ẩng, ẫng cũng đọc ửng, ững được thì mới viết CÓ G. Ví dụ: hí hẩng = hí hửng; hờ hẫng = hờ hững.

    6) Vần ưng

    Những Tiếng đôi mà tiếng sau không nghĩa, khi xuống vần ưng đều viết CÓ G:

    đứng sựng, lưng chừng, hí hửng, pha lửng, tưng bừng.

    7) Vần ung

    Những Tiếng-đôi Không trùng vần, mà tiếng sau không nghĩa xuống vần ung đều viết CÓ G.

    ấp úng, bão bùng, lạ lùng, ngại ngùng...

    Trừ:

    ngắn ngủn, vắn chủn.

    8) Vần iu, ui

    thường đi chung với một tiếng thuộc vần ăn, ân, ăt, it, ut, như:

    bận bịu, chắt chiu, dắt díu, kĩu kịt, nhăn nhíu, ríu rít, dìu dắt, cui cút, gần gũi, gần gụi, ngui ngút, sùi sụt.

    Trừ:

    lăng líu, nâng niu, phẳng phiu, tục tĩu, tằng tịu.

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Thuận @ 19:53 02/01/2011
    Số lượt xem: 367
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến