Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Ngôn ngữ học > Ngữ âm học >

    Chiết đoạn tính và siêu đoạn tính

    Âm vị chiết đoạn là kết quả phân tích âm vị học, dựa trên thuộc tính hình tuyến của ngôn ngữ: trong một thời điểm của ngữ lưu, người ta chỉ có thể bắt gặp được một yếu tố ngôn ngữ nhất định. Khái niệm thời điểm là một khái niệm rất tương đối, tuỳ theo từng cấp độ mà người ta có thể hiểu theo những cách khác nhau. Ở cấp độ cú pháp, thời điểm là nơi có thể chứa được hẳn một thành phần câu. Ví dụ: Trong ví dụ của L. Thompson, câu hỏi dành cho trạng ngữ tiếng Việt về thời gian có thể được đặt vào phía trước hoặc phía sau phát ngôn.

    - Bao giờ anh đi Hà Nội?
    - Anh đi Hà Nội bao giờ?

    Trạng ngữ về thời gian tiếng Việt trong sự phát hiện lí thú này là một chức năng bị phụ thuộc vào vị trí đứng đầu hoặc đứng cuối phát ngôn. Đầu phát ngôn chỉ về tương lai, cuối phát ngôn chỉ về quá khứ. Trong ví dụ của Thompson có hai thời điểm khác nhau khi bàn về chức năng của trạng ngữ về thời gian của tiếng Việt. Ta có:

         
      A   B   C       ?  
         
        A: trạng ngữ chỉ tương lai
    C: trạng ngữ chỉ quá khứ
    B: cấu trúc phát ngôn
    {
    3 thời điểm
          (C – V)
    (đề – thuyết)
       

    Đó chính là "chiết đoạn" cú pháp theo quan điểm của Thompson. Còn ở cấp độ từ pháp học, chiết đoạn tính hoặc "thời điểm" là tương đương với vị trí trước sau của một tiếng (một địa vị). Ta có: Khi đối lập giữa "tốt bụng" và "bụng tốt"; "dài râu" và "râu dài" chúng ta có hai vị trí khác nhau là (A) và (B).

     A   B 

    Khi danh từ rơi vào A, chúng ta có một danh ngữ chính danh, ví dụ:

          râu   dài
    ^_____|
    TT ĐN

    vì cấu trúc này phù hợp với cấu trúc danh ngữ tiếng Việt[1].

    Tuy nhiên, khi đảo lại vị trí của hai thành tố, chúng ta không còn một danh ngữ như trước nữa mà là một tính ngữ đặc biệt, trong đó những yếu tố xuất hiện ở vị trí B làm thành phần hạn định khu vực tác động của những yếu tố ở vị trí A. Như vậy, cấu trúc tính ngữ đặc biệt này, do sự đảo trật tự của một danh ngữ, và vì cấu trúc quá đặc biệt, bất bình thường nên nó mang tính thành ngữ cao hơn so với cấu trúc thông thường là cấu trúc một danh ngữ ("dài râu" có tính thành ngữ cao hơn về nghĩa rất nhiều so với "râu dài").

    Cũng tương tự như vậy, trong các cấu trúc láy, chúng ta cũng có mô hình [A|B]. Nhưng khi yếu tố thực đứng ở vị trí nào trong khuôn này thì sẽ mang áp lực về ngữ pháp cho cấu trúc ý nghĩa của từ láy cụ thể. Khi yếu tố thực xuất hiện ở vị trí B, nghĩa của từ láy bị giảm bớt tính phạm trù (không cắt thực tế ra một cách rõ ràng, nghiêm ngặt). Ví dụ: đo đỏ, mềm mềm, cưng cứng v.v… Nhưng khi yếu tố thực đứng ở vị trí A thì cấu trúc nghĩa lại đi theo chiều hướng ngược lại: nghĩa phạm trù được khẳng định một cách rõ ràng và ngoài ra, cái nghĩa đó còn được gia thêm những nghĩa tình thái hoặc cảm xúc có nhấn mạnh (nét nghĩa biểu thái của từ). Ví dụ: đỏ đắn, mạnh mẽ, phẳng phắn… Nghĩa phạm trù của "đỏ" cộng thêm ý nghĩa tán thưởng về màu sắc: đỏ một cách lành mạnh, kèm theo sự vuông vắn về hình thể… Tập hợp toàn bộ các từ láy theo hai khuôn này, chúng ta có một dãy thang độ từ 5 đến 7 thang bậc khác nhau cho một phẩm chất được định danh qua một cấu trúc từ láy:

    Thang từ láy

    Nói tóm lại, tuỳ theo từng cấp độ mà thời điểm được hiểu rất khác nhau. Nhưng thời điểm bao giờ cũng là một chiều kích về không gian, chứa vừa vặn một đơn vị cơ sở của một cấp độ nhất định. Ở cú pháp học, thời điểm cú pháp chứa vừa vặn một thành phần câu; còn ở từ pháp học, thời điểm chứa vừa vặn được một hình vị cấu tạo từ. Hình vị cấu tạo từ và thanh phần câu là hai đơn vị cơ sở của từ pháp học và cú pháp học tiếng Việt. Nói cách khác, thời điểm không còn là một khái niệm vật lí đơn thuần, đo bằng giây, một đơn vị thời gian hoặc một đơn vị không gian, mà được đo bằng kích thước chức năng của đơn vị đó: khi chứa vừa đủ một đơn vị chức năng ở một cấp độ thì tạo ra được một chiết đoạn của cấp độ đó.

    Định nghĩa: Một chiết đoạn ngôn ngữ học bao gồm hai đặc điểm chính sau đây:

    1, Chứa vừa đủ một đơn vị chức năng cơ sở của cấp độ đó;
    2, Có thể cải biến vị trí của các chiết đoạn này trong một cấu trúc lớn hơn các đơn vị cơ sở của cấp độ đó. Nghĩa là có thể đảo trật tự các chiết đoạn. Nói cách khác, đã có khái niệm chiết đoạn thì phái kéo theo khái niệm trật tự của chiết đoạn.
    Ví dụ:
    Ở cấp độ từ pháp, các hình tiết được gọi là các chiết đoạn, vì:
    a. chứa vừa đủ một đơn vị cơ sở của từ là tiếng một (hình tiết);
    b. khi các hình tiết này nằm trong một cấu trúc lớn hơn là từ thì chịu phép cải biến về trật tự: thứ tự trước sau của các tiếng một là động lực để tạo nên sự thay đổi về nghĩa của cấu trúc lớn hơn đơn vị cơ sở. Ví dụ: Trong "cứng cỏi", vì "cứng" đứng ở vị trí đầu nên tạo nên nét nghĩa phân cắt phạm trù; còn trong "cưng cứng", vì "cứng đứng ở sau nên không tạo ra các nét nghĩa phạm trù.

    Chiết đoạn trong âm vị học cũng phải thoả mãn định nghĩa ở trên. Cụ thể là:

    a. Đã là một chiết đoạn âm vị học thì phải tương ứng với một thời điểm âm vị học. Trong kích thước quảng tính đó, một đơn vị nhỏ nhất của âm vị học có thể hoạt động, được hành chức để khu biệt vỏ từ. Ví dụ: {tan} và {dan} là hai vỏ từ; /t/ và /d/ là hai âm vị chiết đoạn vì trong thời điểm mở đầu âm tiết, âm vị này đứng ở phần đầu âm tiết, chiếm vừa đủ độ dài quảng tính có trong cấu trúc vỏ từ là một hình tiết, và nhờ chúng mà hai vỏ từ này khác nhau. Vậy /d/ và /t/ là hai đơn vị âm vị hoc chiết đoạn.
    b. /d/ và /t/ có thể gặp ở những vị trí khác ở vỏ từ. Đó là phần vần (phần kết thúc âm tiết). /d/ và /t/ khi ở phần đầu âm tiết đều chung nhau đặc tính [+răng-lợi], và [+tắc], nhưng chúng khác nhau ở thanh tính là [+vô thanh] và [-vô thanh]. Khi xuất hiện ở phần vần làm nhiệm vụ kết thúc âm tiết, đặc điểm về tính thanh bị trung hoà hoá, chỉ còn hai đặc điểm là [+răng-lợi] và [+tắc]. Hình thể của nó giống hệt như một âm vị /t-/ đứng ở đầu âm tiết. Khi đem xáo trộn âm /t/ này từ vị trí cuối âm tiết sang đầu âm tiết, ta không còn nhận ra vỏ từ cũ nữa ({tan}). Chính vì vậy, cự cải biết về trật tự C1 & C2 đã làm phá vỡ đến mức không nhận ra được vỏ từ. Người ta nói /t-/ đứng đầu âm tiết và /-/t đứng cuối âm tiết là hai âm vị khác nhau. "Sự phá vỡ đến mức không còn nhận ra vỏ từ cũ" là một phần của định nghĩa âm vị có trong cuốn sách nổi tiếng của Trubetskoy: Cơ sở âm vị học. Nguyên văn là: "Âm vị là đơn vị khu biệt nghĩa. Khi thay đổi các âm vị, vỏ từ bị biến đổi nghĩa hoặc không còn nhận ra vỏ từ cũ nữa". Đó chính là quy luật phân định âm vị trong thủ pháp nổi tiếng của Trubetskoy và trường phái Praha trước 1945.

    Khi đã nói về chiết đoạn âm vị học là nói về khả năng chia cắt của một cấu trúc âm vị học có trong vỏ hình vị hoặc vỏ từ thành các đơn vị cơ sở của âm vị học có độ dài quảng tính nhỏ hơn so với độ dài quảng tính của một vỏ hình tiết hoặc một vỏ từ. Phép chia này bao giờ cũng cho ra các thành tố cấu tạo nên vỏ từ và vỏ hình tiết. Phép chia này bao giờ cũng chia hết vì không còn dưa thừa một yếu tố âm thanh nào ngoài các đơn vị cơ sở cấu tạo nên các thành tố có trong vỏ hình vị, và vỏ từ.

    Tiếng Việt có một thuận lợi vô cùng lớn là có thể xuất phát từ các hình tiết để chia ra các âm vị, chia ra được số các thành tố tạo nên một hình tiết cụ thể. Khuôn đó cũng là một khuôn phổ niệm, chung cho toàn bộ các ngôn ngữ trên thế giới. Ta có:

    [ Hình tiết – Chiết đoạn – Siêu đoạn ]

    Phần thừa ra là phần không chia hết được của một cấu trúc âm thanh, do:

    1. Độ dài quảng tính của chúng không chứa vừa trong một chiết đoạn;
    2. Khu vực chức năng của chúng lớn hơn, bao trùm lên một cấu trúc chiết đoạn;
    3. Không thoả mãn định nghĩa về chiết đoạn tính và thời điểm có trong các cấp độ như cú pháp học và từ pháp học mà chúng ta đã phân tích ở trên.
    Ví dụ
    Các đặc tính [tròn môi] hoặc [dài/ngắn] của nguyên âm hoặc yếu tố sạn (dị chất) có trong hệ thống thanh của tiếng Việt. Ta không thể định vị những yếu tố này vào trong một chiết đoạn ở phần chia hết vì kích thước của chúng quá bé so với một chiết đoạn:
    toan → [twan]
    trong đó, w là yếu tố tròn môi và nó:
    a. không thể xếp vào [t-]
    b. không thể xếp vào [-a-]
    c. không thể tự thiết lập một chiết đoạn vì không định vị được.

    Các nguyên âm ngắn và dài trong tiếng Việt cũng tương tự như vậy. Ví dụ:

    [tăn]
    trong đó: ˘ là yếu tố ngắn, căng, và nó:
    a. không thể xếp được vào vào [-a-]
    b. không thể xếp được vào [-n]
    c. không thể tự thiết lập thành một chiết đoạn riêng vì không thể định vị được.

    Cũng tương tự như vậy, các yếu tố trắc nhập trong thanh là những yếu tố bị sạn trong khi phát âm thanh điệu vì nó làm cho âm tiết bị ngắn lại và thuộc tính đường nét trở nên bất bình thường trong khi thiết lập hệ nét khu biệt của thanh điệu tiếng Việt.

    Cuối cùng là các thanh điệu của tiếng Việt. Vì chúng trải dài ra trên toàn bộ cấu trúc chiết đoạn của một âm tiết nên về bản chất chúng là phi chiết đoạn, hay nói khác đi, chúng là những đơn vị âm vị siêu chiết đoạn chính danh trong tiếng Việt. Chúng là những đơn vị điển hình của siêu chiết đoạn tính.

    Nếu như cấu trúc chiết đoạn của âm tiết chia thành tầng bậc thì ở cấu trúc siêu đoạn cũng tương tự như vậy. Những cấu trúc tôn ti và lớp lang này tạo nên tính bền chắc và phân tiết tính của đặc điểm âm tiết tiếng Việt trong loại hình đơn lập.

    Sơ đồ âm tiết tiếng Việt được hình dung như sau:

    Sơ đồ âm tiết tiếng Việt

     


    [1] Tham khảo: Nguyễn Tài Cẩn. Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 1999, trang 203.

    Nguồn: ngonngu.net

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Thuận @ 08:57 06/12/2010
    Số lượt xem: 1158
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến