Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Ngôn ngữ học > Từ vựng - ngữ nghĩa học >

    Các lớp từ trong từ vựng -- Phân lớp từ ngữ tích cực và tiêu cực

    Từ cổTừ lịch sửTừ mới

    I. Tích cực và tiêu cực ở đây được hiểu là từ ngữ có đóng vai trò tích cực trong đời sống giao tiếp hay không, tức là chúng có thường xuyên được sử dụng hay không.

    1. Trong thực tế, có rất nhiều từ ngữ luôn luôn được mọi người sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc. Nghĩa là chúng thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp (ở dạng này hay dạng khác, nói hay viết, độc thoại hay đối thoại…). Chúng thuộc lớp từ tích cực vì được sử dụng "một cách tích cực".

    2. Ngược lại, có những từ ngữ rất ít được sử dụng, hoặc chỉ sử dụng trong bối cảnh giao tiếp nào đó (vì không phải là quen thuộc với đa số người trong xã hội). Chúng thuộc lớp từ tiêu cực vì chỉ được sử dụng "một cách tiêu cực". Ví dụ, trong tiếng Việtm, các từ: am, lệ (sợ), thái thú, suất đội… là những từ tiêu cực; còn: nhà, người, đi, đẹp… là những từ tích cực.

    II. Mỗi địa phương, mỗi tầng lớp xã hội, mỗi lứa tuổi, giới tính, mỗi nghề nghiệp và ngay cả mỗi cá nhân… đều có từ vựng tích cực và tiêu cực của riêng mình, bởi vì việc tích luỹ, xây dựng và sử dụng từ ngữ ở các đối tượng đó không thể đồng đều, như nhau được, và do rất nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng.

    1. Ở đây, chúng ta nói đến từ ngữ tích cực của cả cộng đồng dân tộc trong bối cảnh toàn xã hội; còn từ ngữ tích cực của các đối tượng có tính chất bộ phận như đã nói trên, sẽ được nghiên cứu riêng, do những yếu cầu riêng.

    2. Lớp từ ngữ tích cực là thành phần cơ bản, trụ cột của từ vựng. Chứng cớ là: để dạy tiếng cho người nước ngoài, người ta thường biên soạn những từ điển tối thiểu, bao gồm những từ ngữ hay được dùng nhất để cung cấp cho họ. Từ điển này sẽ góp phần giúp họ nhanh chóng nắm bắt được những từ ngữ thường được dùng một cách tích cực nhất và nhanh chóng đi vào đời sống giao tiếp chung với người bản ngữ.

    Khi phương pháp thông kê, nghiên cứu định lượng được áp dụng vào từ vựng học, người ta nhận xét rằng từ vựng tích cực bao gồm những từ ngữ có tần số xuất hiện cao (hay được sử dụng, sử dụng một cách tích cực) và độ phân bố lớn (được sử dụng rộng rãi trong nhiều hoàn cảnh và loại hình giao tiếp). Trên cơ sở lí thuyết như vậy, người ta đã tiến hành xây dựng các lại từ điển tần số (từ điển tần số chung và từ điển tần số cho từng lĩnh vực) để phục vụ cho việc dạy và học tiếng. Ví dụ như từ điển tần số tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tiệp, tiếng Đức, tiếng Việt…

    III. Như trên đã nói, lớp từ tiêu cực bao gồm những từ ngữ ít được sử dụng trong ngôn ngữ chung. Vậy những thuật ngữ khoa học, kĩ thuật thuộc các lĩnh vực chuyên môn hẹp và sâu, những từ địa phương không có khả năng phổ biến; đặc biệt là những từ đã cổ, đã lỗi thời, hoặc vừa mới nảy sinh chưa được xã hội biết đến và sử dụng đều thuộc lớp từ này.

    Có ba bộ phận của lớp từ tiêu cực cần xét kĩ là từ cổ, từ lịch sửtừ mới.

    Từ cổ

    • Từ cổ • Từ lịch sửTừ mới

    Từ cổ là những từ bị đẩy ra ngoài hệ thống từ vựng hiện tại, bởi trong quá trình phát triển, biến đổi, đã xảy ra những xung đột về đồng nghĩa hoặc đồng âm và bị từ khác thay thế.

    Chính vì vậy các từ cổ đều có từ tương ứng, đồng nghĩa với chúng trong trạng thái từ vựng hiện đại.

    Sự thật là mức độ tiêu biến của từ cổ không đồng đều. Có hai dạng cần phân biệt:

    a. Những từ đã mất hẳn trong từ vựng hiện đại. Muốn tìm và hiểu những từ này phải lùi lại những tài liệu ghi chép đựơc trong quá khứ để khảo sát và phân tích. Ví dụ trong tác phẩm "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi (thế kĩV) có những từ cổ của tiếng Việt thuộc dạng này như: bui (chỉ); cốc (biết); chăng (không); khứng (chịu); mảng (nghe); mựa (đừng, chớ); mấy (với); tượng (có lẽ, hình như); thìn (giữ gìn); thửa (từ nối); phen (so bì); tua (nên); chỉn (chỉ, vẫn); phô (các, mọi); xoa (hẩm); lọn (trọn); hoà (và)…

    b. Những từ đã bị đẩy khỏi vị trí vốn có của chúng nhưng vẫn còn để lại dấu vết của mình: trở thanh thành tố cấu tạo trong một vài từ nào đó; hoặc cũng có khi đứng trong một thành ngữ, tục ngữ nào đó mà người ta hiện nay không biết ý nghĩa của chúng là gì. Chẳng hạn, trong một số tác phẩm cổ thuộc các thế kỉ trước, chúng ta còn thấy có hàng loạt đơn vị như vậy (đối chiếu với các từ hiện đại tương ứng):

    Âu (lo âu); lác (lác đác); lệ (e lệ); nàn (phàn nàn); bỏng (bé bỏng); rập (giúp rập); giã (giã từ); han (hỏi han)…

    Lại có một số từ tuy không trở thành thành tố cấu tạo từ như trên mà vẫn đứng trong một số lối nói hạn chế nào đó; nhưng người ta ít hiểu hoặc không hiểu chúng nữa. Ví dụ:

    khôn (khôn lường; khôn xiết); dấu (con vua, vua dấu, con châu chấu, châu chấu yêu; chúa dấu vua yêu một cái này – Hồ Xuân Hương); cả (sông cả; con cả; cả ăn cả mặc lại càng cả lo); đăm, chiêu (gà kia mày gáy chiêu đăm); giái (già giái non hột); dái (khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương);… (đăm = bên phải; chiêu = bên trái; giải = quả, trái; dái = sợ, kính, nể).

    Từ lịch sử

    Từ cổ • Từ lịch sử • Từ mới

    a. Từ lịch sử là những từ bị đẩy ra ngoài phạm vi từ vựng chung, tích cực bởi các nguyên nhân lịch sử và xã hội. Khi đối tượng từ biểu thị, gọi tên bị gạt ra ngoài đời sống xã hội thì tên gọi của nó cũng mất dần vị trí vốn có trước đây. Chẳng hạn, các từ gọi tên chức tước, phẩm hàm, quan chế, các công việc thi cử, thuế má… thời xưa trong tiếng Việt, nay đã trở thành từ lịch sử. Trong đời sống giao tiếp chung, rất hiếm khi chúng được nhắc tới: thái thú, thái học sinh, thượng thư, toàn quyền, công sứ, đốc đồng, tú kép, tú mền, cử nhân, hoàng giáp, thám giá, bảng nhãn, nghè, cống, khoá sinh, ống quyển, áp triện

    b. Khi nói về lịch sử và từ cổ trong tiếng Việt, ta cần chú ý tới một bộ phận gồm những từ như: hoả tiễn, hoả xa, hoả châu, hoá pháo, hải đăng, hải phỉ, tiềm thuỷ đĩnh, hàng không mẫu hạm, điền chủ, điền trang, dân cày, khai hội, gác đờ bu, gác đờ xen, pooc ba ga, ghi đông

    Nếu lấy tiêu chí là từ bị từ khác thay thế (từ đồng nghĩa với chúng trong từ vựng hiện đại) thì phải nhất loạt gọi chúng là các từ cổ. Thế nhưng, thực tế là người hiện thời hôm nay vẫn hiểu chúng khá rõ, thậm chí đôi ki rất rõ và vẫn dùng, vì chúng chỉ mới bị thay thế cách đây không lâu, hoặc đang trên đường bị thay thế hẳn. Bởi vậy, để phản ánh tình hình đó, có khi người ta tách chúng ra thành một nhóm gọi là nhóm các từ cũ với ngụ ý phân biệt về tính chất và mức độ cổ so với các từ cổ thực sự, xa xôi với tình trạng ngôn ngữ ngày hôm nay.

    Từ mới

    Từ cổTừ lịch sử • Từ mới

    Có nhiều con đường dẫn tới việc xuất hiện cũng như có nhiều cách cấu tạo từ ngữ mới [1]. Tuy nhiên, đó là một chuyện, còn vị trí và vai trò của các từ ngữ mới đối với từ vựng và đời sống giao tiếp lại là chuyện khác.

    a. Khi một từ vừa mới xuất hiện, chắc chắn chưa có nhiều người trong phạm vi xã hội biết đến. Nó còn nằm trong phạm vi giao tiếp hẹp nào đó. Vì thế nó thuộc về lớp các từ ngữ tiêu cực.

    Tuy vậy, nếu sau đó, từ này được chấp nhận và phổ biến trong xã hội một cách rộng rãi thì nó lại nhanh chóng đi vào lớp từ vựng tích cực. Do đó, cái gọi là từ mới phải luôn được xét trong một thời gian cụ thể, một tình trạng từ vựng cụ thể. Chẳng hạn hiện nay [năm 1997] trong tiếng Việt các từ ngữ: tin học, phần cứng, phần mềm, đầu vào, đầu ra… mới được nói tới trên một số phương tiện thông tin đại chúng. Chúng chưa được dùng phổ biến sâu rộng trong phạm vi toàn xã hội và chưa đứng vào lớp từ tích cực của toàn dân. Thời gian và sự sử dụng của xã hội đối với những từ này trong tương lai sẽ trả lời: chúng có đứng vào lớp từ đó hay không.

    Ngược dòng thời gian cách đây khoảng 10 – 15 năm, các từ cát xét, tủ lạnh, bếp ga… vẫn còn là những tên gọi mới trong từ vựng tiếng Việt, giống như các từ: kháng chiến, súng cối, đại liên, tiểu liên, trung đội, dân công, vành đai, tề, nguỵ, lô cốt… trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp hoặc: Việt minh, phê bình, Liên Xô, uỷ ban, yêu cầu, phân công, đoàn thể… vào thời kì Cách mạng tháng Tám vậy. Thế nhưng ngày nay, các từ đó đã đi vào lớp từ tích cực của tiếng Việt; và màu sắc mới của chúng không còn nữa.

    Thời gian để cho một từ mới có chính thức đi vào lớp từ tích cực hay không, thường là ngắn, thậm chí đôi khi rất ngắn. Ngược lại, thời gian để một từ trở nên cũ hoặc cổ thường là kéo dài hơn vì nó tồn tại dai dẳng khá lâu.

    b. Từ vựng của mọi ngôn ngữ được phong phú hoá, đa dạng hoá không phải chỉ ở chỗ có những từ ngữ mới xuất hiện. Nó còn thể hiện ở việc tạo dựng nghĩa mới cho những từ hiện có; hoặc tìm tòi những cách dùng mới cho đúng. Nói khác đi, từ vựng chẳng những có những cái mới ở bề mặt, mà còn có những cái mới ở chiều sâu của nó.

    Nếu ta nói rằng nghĩa này hay nghĩa kia của một từ là nghĩa mới, ta phải luôn luôn đặt trong một mốc thời gian để so sánh. ví dụ, cách đây vài chục năm các nghĩa tương ứng của một số từ ngữ như sau là nghĩa mới:

    Tổ chức = làm đám cưới
    Xây dựng = lấy vợ, lấy chồng
    Đặt vấn đề = ngỏ lời về ý định yêu đương

    Khoảng mươi năm về trước, nghĩa của từ phường hội trong lối nói chủn ghĩa tập thể phường hội; hoặc lạnh trong chiến tranh lạnh; và cụm từ bật đèn xanh cũng ở trong tình trạng như vậy.

    Thế, có nghĩa là: nghĩa mới của từ cũng có giới hạn tiêu cực và tích cực giống như từ mới.

    Hiện nay trong tiếng Việt, con đường mở mang, tạo dựng nghĩa mới cho từ đang phát triển mạnh bên cạnh việc tạo các từ mới. Một trong những biểu hiện rõ của con đường đó là hiện tượng dùng một từ trong những tư cách từ loại khác nhau. Điều này có nghĩa lí do của nó. Khi chuyển đổi từ loại của từ như vậy, sự biến động trong cấu trúc nghĩa của chúng đã xảy ra và dẫn tới cả những biến động về bản chất từ vựng – ngữ pháp của chúng nữa. Ví dụ: băn khoăn – những băn khoăn; ảnh hưởng của chúng ta – những ảnh hưởng của phong trào cách mạng

    Tương tự như vậy, ta có hàng loạt trường hợp: những day dứt; có hai suy nghĩ nghiêm chỉnh; rất con người; tác phong công nghiệp; lối làm ăn còn rất tiểu nông

    Lẽ đương nhiên, ở đây phải luôn luôn lưu ý tới những cách dùng, những sáng tạo cá nhân. Rất có thể một tác giả, một cá nhân nào đó trong khi dử dụng ngôn từ có thể xây dựng, đưa ra một cách dùng mới, một sắc thái mới trong nội dung cho từ; và cách dùng đó, sắc thái mới đó rất độc đáo. Thế nhưng, nó có được phổ biến, cả xã hội chấp nhận và dùng theo hay không, lại là một vấn đề khác.

    Ví dụ, chúng ta rất thú vị vơi lối nói ga bay (= sân bay); bầu mây ( = bầu trời); trả động ( = báo yên) của Nguyễn Tuân; nhưng chúng chỉ loé sáng lên trong tác phẩm của riêng ông mà thôi. Những trường hợp tương tự như vậy mới chỉ đem lại cho từ cái gọi là nghĩa không thường trực – kết quả của những cách dùng ngôn ngữ đậm màu sắc tu từ.


    [1] Xem chương 14 – Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt.

    Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 230–232.

    Nguồn: ngonngu.net

     

     

     

     


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Thuận @ 09:41 06/12/2010
    Số lượt xem: 3028
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến