Tài nguyên

"
Việc học như chiếc thuyền ngược nước, không tiến thì lùi, lòng người như con ngựa chăn ngoài đồng dễ thả khó bắt - Học như nghịch thủy hành chu bất tiến tắc thoái, tâm tự bình nguyên mục mã dị phóng nan thu. - 學 如 逆 水 行 舟 不 進 則 退, 心 似 平 原 牧 馬 易 放 難 收.

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website của Nguyen Van Thuan

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Ngôn ngữ học > Ngữ âm học >

    Các đơn vị siêu đoạn tính

    Một tiết vị, ngoài các đơn vị chiết đoạn tính nằm ở C1VC2 đã xem xét, còn được phức tạp hoá bởi các đơn vị siêu đoạn tính, đó là hệ thống thanh điệu và những hệ thống điệu vị (prosodemes) khác.

    Các hệ thống điệu vị, ngoài thanh vị (tonemes), bao gồm hai tiểu hệ thống là sự tròn môi hoá âm tiết ([ +tròn môi]) và điệu vị thuộc về vần ([+ căng]). Điệu vị trong môi hoá âm tiết có tác dụng biết một âm tiết bình thường thành một âm tiết được tròn môi hoá.

    Ví dụ, ta có loạt biến đổi sau đây:

    STT Quốc ngữ ÂVH mở rộng
    1. i → uy /?i1/ →[+tròn môi]→ ([?i]) ([+tròn môi])([1])
    2. tan → toan /tan1/ ([tan]) ([+tròn môi])([1])
    3. kiên → quyên /kien1/ ([kien]) ([+tròn môi])([1])
    4. can → quan /kan1/ ([kan]) ([+tròn môi])([1])

    (Ghi chú: chiết đoạn tính; siêu đoạn tính)

    Trong 154 vần của tiếng Việt chỉ có 44 vần bị tác động của quá trình tròn môi hoá âm tiết. Nghĩa là cấu trúc âm tiết tiếng Việt tuân theo nguyên tắc tối ưu hoá của lí thuyết âm vị học tối ưu hiện nay: Âm tiết càng đơn giản về cấu trúc thì càng có khả năng sử dụng thường xuyên (càng có cơ hội tham gia và các cấu trúc từ tiếng Việt hiện đại). Tỉ lệ 44/154 (gần 25%) nói lên một điều là các âm tiết tròn môi hoá trong tiếng Việt là thiểu số và ít có năng lực phái sinh trong thực tế, ít đáp ứng một cách có hiệu quả nguyên tắc thứ 4 của lí thuyết kí hiệu học hiện đại: Tính năng sản của các hiện tượng ngôn ngữ.

    a. Biểu diễn âm vị học đối với trường hợp điệu vị [+tròn môi] được đặt phía phải trong một biểu diễn âm vị học. Ví dụ:


    “toan”: ([tan]) ([+tròn môi][T1])
     +  +    +    +    +    +    +  +    +    +  
        + PAT
    + tắc
    + răng-lợi
    + vô thanh
          + NAT
    + đơn
    - trước
    - sau
    + thấp
          + PAT
    - NAT
    + tắc
    - môi
    - ngạc
            [+tròn môi] [1]    
     +  +    +    +    +    +    +  +    +    +  

    b. Điệu vị [+ căng]

    Cũng như tác dụng của quá trình âm vị học tròn môi hoá, quá trình căng hoá không thể định vị thành một chiết đoạn, nó có tác động đến những đơn vị âm thanh lớn hơn một chiết đoạn âm vị học tính nhưng tầm ảnh hưởng của nó gói trọn trong vần của tiết vị. Ta có:

    Điệu vị

    Vì điệu vị [+căng] là một quá trình âm vị học có thể chứng minh được qua quá trình lịch sử của tiếng Việt nên chúng ta có:

    STT Quốc ngữ ÂVH mở rộng
    1. keng → uy [kε1ŋ] →[+căng]→ [kεŋ]
    2. tan → tăn [tan1] ([tăn1])
    3. cơm → câm [kơm1] [kơm1]
    4. coong → cong [kôŋ1] [koŋ1]

    Quá trình âm vị học này tác động tới 33% các vần có trong tiếng Việt. Đó là những vần chứa các nguyên âm như: /ơ, a, ε,  + /.

    Ngoài hai đơn vị chiết đoạn tính trên, không thể không kể tới loại đơn vị chiết đoạn tính thứ ba là thanh điệu. Hệ thống thanh điệu này gồm 8 âm vị sau đây:
    STT Quốc ngữ Phiên âm Ví dụ
    1.
    2.
    3.
    4.
    5.
    6.
    7.
    8.
    ø
    \
    ~
    ?
    /
    .
    “/”
    “.”
    1
    2
    3
    4
    5
    6
    7
    8
    ta


    tả

    tạ

    tát
    tạt

    Để biểu diễn âm vị học cho các thanh vị, chúng ta cần liệt kê ra các nét khu biệt cua thanh vị tiếng Việt. Các thanh điệu tiếng Việt khu biệt nhau theo các đặc điểm về mặt cao độ và các đặc điểm về mặt cấu âm (Các đặc điểm không thuần tuý do cạo độ quy định). Đó là những dấu vết còn lại trong sự tiến hoá từ chiết đoạn tính sang siêu đoạn tính (từ một ngôn ngữ không có thanh điệu trở thành ngôn ngữ có thanh điệu) chúng ta gọi đó là những nét [+sạn]. các nét khu biệt của thanh điệu tiếng Việt được thể hiện trong Ma trận thanh điệu tiếng Việt dưới đây:

    Thanh vị Nét khu biệt
    Cao/ Thấp Bằng/ Trắc 1 hướng/ 2 hướng Sạn
    1
    2
    3
    4
    5
    6
    7
    8
    +
     
     
    +
    +
     
    +
     
     
    -
    -
     
     
    -
     
    -
    +
    +
     
     
    -
    -
    -
    -
    -
    -
     
     
    +
    +
    0
    0
     
     
    -
    -
    -
    -
    0
    0
    +
    -
    -
    +
    +
    +

    Ma trận này, nhìn theo sự phân loại lưỡng phân hoá của âm vị học hiện đại tạo nên sơ đồ cây:

    Sơ đồ thanh vị

    Lưu ý: Thuộc tính [+sạn] là nét dư đối với thanh trắc truyền thống: 3,4,5,6.

    Quá trình hình thành thanh điệu tiếng Việt đã chứng minh sự lột xác gần như hoàn toàn của các thuộc tính cố hữu và chiết đoạn nằm trong các thanh này. Tuy nhiên, trong sự hiện thực hoá của các phương ngữ, người ta vẫn còn thấy lác đác các dấu vết chiết đoạn trong các hệ thanh khập khiễng như:

    Tiếng Thanh Hoá & Nam Bộ: ngã – hỏi nhập 1;
    Tiếng Nghệ: ngã – nặng nhập 1;
    Hà Tĩnh, Quảng Bình: hỏi – sắc dễ bị nhầm lẫn.
    Một số nơi khác: 4 thanh trắc này có thể chỉ còn 2 hoặc 3 hoặc 1 thanh vị (tiếng Nghi Lộc)...

    Để biểu diễn âm vị học cho thanh vị, chúng ta xếp phần biểu diễn thanh vào phần cuối cùng ở vế bên phải của một biểu diễn âm vị học. Ví dụ với trường hợp thanh 4 trong âm [kwa4] (“quả”):

     +  +    +    +    +  +    +  +    +    +    +  +
        + PAT
    + tắc
    + răng-lợi
    + ngạc mềm
          + NAT
    + đơn
    - trước
    - sau
    + thấp
              +Tròn môi       +TĐT
    - bằng
    - đơn hướng
    + cao
       
     +  +    +    +    +  +    +  +    +    +    +  +
    Phía trái   Phía phải

    Bất kì một tiết vị nào trong tiếng Việt cũng được biểu diễn âm vị học nhằm lột tả được những thuộc tính ngữ âm và thực thể mà mỗi đơn vị âm thanh trong đó chứa. Mặt khác, qua biểu diễn âm vị học, có thể nhìn thấy những tương quan khác nhau mang tính hệ thống của các âm vị các điệu vị và các thuộc tính âm vị học có trong một âm vị hoặc một điệu vị.

    Nếu ở các âm vị bình thường và các thanh vị, nội dung âm vị học của chúng không bao giờ nhỏ hơn sơ với 2 nét khu biệt, thì đối với các điệu vị như [+ tròn môi] hoặc [+ căng], sự biểu diễn âm vị học cho chúng lại chỉ là một nét đơn nhất mà thôi. Như vậy, định nghĩa về âm vị là một chùm nét khu biệt không hoàn toàn đúng với trường hợp các điệu vị. Mỗi một điệu vị thường chỉ là nét khu biệt. Có lẽ vì thế mà Đoàn Thiện Thuật và những người cùng trường phái với ông đã mắc sai lầm khi liệt kê âm đệm thành một phần trong giá trình trong khi đó là một đơn vị thiếu, không đầy đủ: một tiểu hệ thống chỉ có hai đơn vị là nó và không phải là nó. Đó là chính là điểm yếu nhất của Ngữ âm học tiếng Việt. Vì vậy, nét [+ tròn môi] là một điệu vị chứ không phải là một âm vị.

    Đối với nét [+căng] cũng tương tự như vậy.

    Tóm lại: Một biểu diễn âm vị học bao gồm:
    - Phần phía trái của biểu diễn âm vị học để thể hiện cấu trúc chiết đoạn của một tiết vị trong đó có C1-V-C2
    - Phái phải để biểu diễn các điệu vị và thanh vị trong đó đầu tiên là điệu vị [tròn môi] rồi đến điệu vị [căng] và kết thúc là [thanh vị].

    Một biểu diễn gọi là đúng đắn khi nó loại trừ được tất cả các nét dư có trong một nội dung âm vị học. Ví dụ cho trường hợp biểu diễn âm vị học có đầy đủ các thành phần:

    “quánh”
     +  +    +    +    +    +    +  +    +  +    +    +    +    +    +  +
        + PAT
    + tắc
    + ngạc mềm
          + NAT
    + đơn
    - trước
    - sau
    + thấp
          + PAT
    - NAT
    + tắc
    + ngạc mềm
              + tròn môi       + căng       + TĐT
    + cao
    - bằng
    + đơn hướng
       

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Thuận @ 08:38 06/12/2010
    Số lượt xem: 2679
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến